| Trang chủ | Tin tức | 06/03/2010 |
Tin tức
Thách thức còn ở phía trước
Trong nhiều năm trở lại đây, cơ sở hạ tầng trong lĩnh vực thông tin và truyền thông Việt Nam được đánh giá là có những bước phát triển hơn trước. Tỷ lệ người dân sử dụng điện thoại đạt 88,7%, Internet 24,2%, hơn 60% cơ quan chính quyền cấp tỉnh có mạng nội bộ (LAN), hơn 90% có kết nối Internet...
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa được đánh giá cao ở mức độ sẵn sàng cho chính phủ điện tử, chưa có khung kiến trúc tổng thể cũng như việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu chung. Điều này là một trở ngại đối với quá trình xây dựng chính phủ điện tử.
Tín hiệu lạc quan
Theo bản báo cáo về chỉ số sẵn sàng công nghệ thông tin - truyền thông (CNTT-TT) của Việt Nam được công bố vào tháng 12-2008, hầu hết các tỉnh, thành phố, bộ và cơ quan ngang bộ trên cả nước đều có trang web cung cấp các thông tin và dịch vụ hành chính công trực tuyến. Có nhiều địa phương đã đạt đến cấp độ 3, nghĩa là công dân có thể điền và gửi trực tuyến các mẫu đơn, hồ sơ, xử lý và giao dịch hồ sơ qua mạng với các cơ quan quản lý nhà nước. Một số địa phương đang sẵn sàng cho mục tiêu cấp độ 4, nghĩa là cơ quan quản lý nhà nước thực hiện dịch vụ và trả kết quả trực tuyến.
|
Quá trình triển khai chính phủ điện tử hiện nay tại Việt Nam có điều thuận lợi là Chính phủ đã quyết tâm và chỉ đạo quyết liệt. Thủ tướng Chính phủ trong phiên trả lời chất vấn của Quốc hội ngày 19-11-2009 đã nói rằng chính phủ điện tử là một chương trình lớn và rất mới, Chính phủ đang tập trung chỉ đạo. Những yếu tố thuận lợi khác làchính phủ điện tử được người dân và xã hội ủng hộ, hệ thống văn bản quản lý khá đầy đủ, có kinh nghiệm thành công và thất bại; về tổ chức, các cơ quan đều có đơn vị chuyên trách về CNTT. Bên cạnh đó, hạ tầng của ngành CNTT và viễn thông, tỷ lệ 25% dân số sử dụng Internet là những tiền đề rất căn bản để triển khai có hiệu quả chính phủ điện tử. |
Năm 2008 cũng ghi nhận việc nhiều cơ quan chính phủ, các bộ và địa phương tiến hành họp giao ban qua mạng Internet. Chỉ riêng việc này cũng đã đem lại những lợi ích rõ rệt.
Trước đây, ở mỗi cuộc họp của trung ương, nếu mỗi tỉnh cử từ một đến ba người đi dự thì trên cả nước sẽ có khoảng 120-130 người dự họp. Kinh phí cho mỗi lần họp mất khoảng 500-800 triệu đồng. Giờ đây, họp qua mạng thì mỗi địa phương có thể cử 10 người tham gia, toàn quốc có thể có từ 500 đến 1.000 người tham dự mà không phải tốn thời gian, kinh phí cho việc đi lại.
Bên cạnh đó, nhiều cán bộ cơ sở có điều kiện nghe
Những kết quả mà Việt Nam đạt được trong việc xây dựng chính phủ điện tử còn được thể hiện bằng sự cải thiện vị trí của quốc gia trên bản đồ CNTT thế giới.
Theo bản báo cáo kết quả nghiên cứu về chính phủ điện tử 2010 do Tổ chức Mạng quản trị công của Liên hiệp quốc (UNPAN) thực hiện, vị trí của Việt Nam trong năm 2009 tăng lên một bậc so với năm 2008; chính phủ điện tử của Việt Nam được xếp hạng 90/192, và đứng thứ sáu trong 11 quốc gia Đông Nam Á.
Bản báo cáo cũng nhấn mạnh rằng sự phát triển chính phủ điện tử phản ánh sự sẵn sàng không chỉ của nhà nước mà còn của cả hạ tầng CNTT và viễn thông.
Việt Nam đang xúc tiến triển khai nhanh chính phủ điện tử với mong muốn đưa ứng dụng CNTT vào công tác quản lý điều hành và cung cấp dịch vụ công cho doanh nghiệp và người dân. Tuy nhiên, nếu tính từ năm 1995, thời điểm khởi xướng chính phủ điện tử, đến nay đã 15 năm, bên cạnh không ít thành công thì chúng ta cũng nhận cả những bài học cay đắng.
Chúng ta tuy còn nghèo, nhưng triển khai chính phủ điện tử thì không thể ngồi đợi đến khi kinh tế phát triển, nên chính phủ điện tử không còn là câu chuyện của riêng ai và cải cách hành chính cũng không thể chần chừ thêm nữa.
Thách thức trước mặt
Cải cách nhằm rút ngắn thủ tục hành chính và chính phủ điện tử đã không còn là hai con đường mà phải là một quá trình cùng hoàn thiện. Các địa phương cũng dần quen và sử dụng chữ ký số, e-mail… và quên dần những tập hồ sơ giấy tờ với mộc đỏ.
Nếu các thủ tục hành chính không hợp lý được bãi bỏ càng sát với yêu cầu thực tiễn thì sự tác động tích cực đến sản xuất-kinh doanh, đến chi phí của doanh nghiệp và người dân và sự cải thiện môi trường kinh doanh càng lớn. Đẩy mạnh ứng dụng CNTT gắn với cải cách hành chính cũng góp phần vào việc gia tăng chỉ số cạnh tranh mà các địa phương cần tính đến.
Tuy nhiên, những điều nói trên chỉ có thể đạt được trước hết từ ý chí cải cách hành chính chứ không phải từ năng lực của hạ tầng CNTT. Mục tiêu của ứng dụng CNTT trong nền hành chính nhà nước là tạo ra một phương thức vận hành thông suốt, hiệu quả của bộ máy công quyền thông qua việc sử dụng các hệ thống thông tin điện tử.
Do vậy, các ứng dụng CNTT phải được thiết lập trên cơ sở “đơn đặt hàng” của bộ máy hành chính và nhờ tính năng đặc biệt của công nghệ mà bộ máy hành chính sẽ hoạt động có hiệu quả, năng động. Chính cải cách hành chính là chủ thể đưa ra mục tiêu, yêu cầu cho việc thiết lập các hệ thống CNTT. Mức độ cải cách sẽ quyết định quy mô, phạm vi của CNTT, chứ không phải ngược lại.
Điều cản trở chính đối với sự phát triển chính phủ điện tử ở Việt Nam không phải ở kỹ thuật mà là ở thể chế. Một số yếu tố đáng kể là vai trò đầu tàu, chỉ đạo về chính phủ điện tử còn hạn chế, truyền thông về công nghệ và năng lực của ngành CNTT-TT cho khu vực tư nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn còn thiếu, khung pháp lý cho các hoạt động CNTT-TT còn chưa hoàn chỉnh... Tất cả là những thách thức lớn sắp tới sẽ lấy đi của chúng ta rất nhiều công sức và thời gian.
Diệp Văn Sơn (*) - (TBVTSG)
(*) Chuyên viên cao cấp - nguyên Phó vụ trưởng Bộ Nội vụ.
- Fasolla on twitter
- Netzender on twitter
- Gocsangtao on twitter
- Alotourist on twitter
- Mua sản phẩm Website Thương Mại Điện Tử từ nhà cung cấp Fasolla - Phan mem ke toan Seeget
- Mua sản phẩm Website tĩnh + động từ nhà cung cấp Fasolla - Phan mem ke toan Seeget
Mobile Internet thúc đẩy phát triển thị trường 3G
Phát triển dịch vụ truy cập Internet di động (Mobile Internet) đang là một nhân tố mới đóng vai trò cho một cuộc đua thu hút thuê bao 3G giữa các nhà mạng khi chỉ trong một thời gian ngắn thị trường đã chứng kiến nhiều mạng viễn thông thương mại hóa dịch vụ này.
Dịch vụ Mobile Internet mới cung cấp giải pháp tổng thể, đặc biệt là truy cập Internet, hỗ trợ khách hàng truy cập từ cả điện thoại di động và máy tính. Bên cạnh các dịch vụ truyền tin đơn giản như đàm thoại và tin nhắn, hiện tại, các nhu cầu thông tin đa dạng, phong phú hơn như truy cập internet, download nhạc trực tuyến... đang phát triển. Để đáp ứng nhu cầu đó, các nhà cung cấp dịch vụ cũng ráo riết mở rộng và phát triển mạng lưới mới, không bỏ qua cơ hội phát triển các dịch vụ gia tăng để thu hút các thuê bao 3G. Ông Nguyễn Anh Đức, Phó giám đốc chi nhánh Viettel Telecom TPHCM cho Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online hay: viễn thông năm 2010, với công nghệ 3G sẽ tập trung phát triển dịch vụ Mobile Internet. Đây sẽ là dịch vụ chủ đạo trong cuộc cạnh tranh thu hút các thuê bao 3G bởi nó đóng vai trò là cuộc cách mạng truy cập Internet băng thông rộng mọi lúc mọi nơi. Theo khảo sát của Viettel trong thời gian thử nghiệm dịch vụ Mobile Internet từ đầu tháng 2 thì dịch vụ này phát triển tốt, đem lại doanh thu cao hơn so với các dịch vụ cơ bản như đàm thoại, nhắn tin hay truy cập GPRS. Chính vì vậy, đại diện của Viettel cho rằng dịch vụ Mobile Internet này sẽ đóng vai trò quan trọng trong hướng phát triển các thuê bao 3G sắp tới và Viettel đang tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng mạng đủ mạnh để đáp ứng nhu cầu truy cập băng thông rộng. Viettel cũng cho hay sẽ chính thức cung cấp dịch vụ 3G vào ngày 15 tháng 3 tới. Kỳ vọng vào dịch vụ này sẽ đem lại doanh thu lớn, vừa qua mạng CDMA S-Fone lần đầu điều chỉnh giá cước Mobile Internet khi S-Fone là mạng di động đầu tiên cung cấp dịch vụ này và hoạt động một mình một chợ trong nhiều năm qua. Giới quan sát cho hay đây là một động thái cạnh tranh tích cực tạo thu hút khách hàng 3G nhiều hơn. Theo đó, S-Fone cho ra mắt gói cước trả sau mới Data eCo dành cho khách hàng di động đầu số 095. Khi sử dụng gói cước này, khách hàng chỉ phải đóng khoản thuê bao hàng tháng là 30.000 đồng để có thể sử dụng dung lượng dữ liệu là 30MB một tháng. Ngoài ra, thuê bao còn được ưu đãi 30 tin nhắn nội mạng miễn phí. Trong trường hợp khách hàng sử dụng vượt quá 30MB/tháng, thì nhà mạng sẽ tính cước theo block 1G với mức cước là 50.000 đồng/1G. Đối với dịch vụ Internet di động cũng được điều chỉnh giá. Cụ thể, thuê bao gói Data Home chỉ còn 145.000 đồng/tháng so với mức giá 180.000 đồng/tháng, có dung lượng miễn phí là 3GB/tháng. Ông Trần Thiện Thanh, giám đốc khu vực 2 của S-Fone, cũng khẳng định Mobile Internet sẽ là dịch vụ hứa hẹn đem lại lợi nhuận cao cho hoạt động kinh doanh của S-Fone, chiếm trên 30% doanh thu của mạng này. Vì vậy, để phát triển dịch vụ, S-Fone sẽ lắp đặt thêm 1.000 trạm phát sóng trong năm 2010. Hiện, MobiFone và VinaPhone thuộc Tập đoàn VNPT đã cung cấp dịch vụ 3G từ cuối năm 2009 và đã cung cấp các dịch vụ Mobile Internet. Đại diện của Tập đoàn VNPT cho hay: VNPT hy vọng trong năm 2010, chỉ cần 2 mạng di động này có trên dưới 5 triệu người dùng 3G và dịch vụ Mobile Internet thì cũng đủ giúp VNPT tăng trưởng doanh thu và tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Trong khi đó, một nhà cung cấp dịch vụ 3G khác là EVN Telecom cho hay sẽ chính thức cung cấp dịch vụ 3G trong tháng 4-2010. Dù chưa công bố các dịch vụ cụ thể, song đại diện của EVN Telecom cho hay Mobile Internet sẽ là dịch vụ chính mà doanh nghiệp này đưa ra thị trường. Như vậy, tính đến hết tháng 4 năm nay, Việt Nam sẽ có 4 nhà cung cấp dịch vụ 3G là VinaPhone, MobiFone, Viettel và EVN Telecom khiến thị trường viễn thông 3G sẽ phát triển nhanh và cạnh tranh khốc liệt hơn. Mới đây, hãng nghiên cứu thị trường BMI của Anh đưa ra nhận định về thị trường 3G Việt Nam trong quí 4 năm 2009 rằng các dịch vụ 3G vẫn chưa hứa hẹn sự bùng nổ do nhu cầu của người sử dụng là chưa nhiều và chi phí dịch vụ 3G hiện còn ở mức cao. Hiện tại, chính phủ khuyến khích phát triển các dịch vụ viễn thông mới và cho phép các nhà cung cấp dịch vụ bắt tay, chia sẻ hạ tầng mạng. Đây sẽ là những yếu tố làm tăng tính cạnh tranh và thị trường phát triển nhanh hơn. BMI dự báo, con số thuê bao 3G sẽ đạt khoảng 4.5 triệu thuê bao vào năm 2013, chỉ chiếm khoảng 2% so với tổng số thuê bao di động hiện nay. Công ty nghiên cứu này cho rằng con số thuê bao 3G sẽ tăng cao hơn trong những năm tới nếu các nhà mạng mạnh tay cắt giảm thuê bao ảo. Thu Hiền - (TBKTSG Online) 
- Fasolla on twitter
- Netzender on twitter
- Gocsangtao on twitter
- Alotourist on twitter
- Mua sản phẩm Website Thương Mại Điện Tử từ nhà cung cấp Fasolla - Phan mem ke toan Seeget
- Mua sản phẩm Website tĩnh + động từ nhà cung cấp Fasolla - Phan mem ke toan Seeget
Mua bán doanh nghiệp: Hy vọng mùa gặt 2010
Trong tuần giao dịch cuối cùng của chứng khoán ngay trước Tết Canh Dần (từ 8 đến 12/2/2010), cổ phiếu Công ty Sữa Việt Nam (Vinamilk) bất ngờ tăng mạnh cả về giá và số lượng khớp lệnh.
Tin đồn lan khắp thị trường: Vinamilk chuẩn bị chuyển nhượng nhà máy cà phê cho một đối tác trong nước và ghi nhận khoản lợi nhuận bất thường.
Tuy nhiên, một lãnh đạo của Vinamilk phủ nhận tin này. Hóa ra một quỹ đầu tư mới của Mỹ, chuyên bỏ vốn vào Trung Quốc, đang hối hả mua Vinamilk trước khi cổ phiếu này hết “room” dành cho nước ngoài.
Mua bán, sáp nhập: Những thương vụ điển hình
Trên thực tế, đầu năm 2009, Vinamilk đã từng chuyển nhượng 50% cổ phần của mình trong liên doanh SABMiller Vietnam, một công ty sản xuất bia, cho đối tác SABMiller Asia BV. Lợi nhuận chuyển nhượng đã được Vinamilk hạch toán vào kết quả kinh doanh năm ngoái.
Vụ mua bán này đã mở màn cho một năm sôi động của hoạt động mua bán sáp nhập doanh nghiệp (M&A), mà theo đánh giá của Công ty Value Vietnam, là 230 thương vụ. Còn theo PriwaterhouseCoopers, trị giá M&A tăng nhẹ so với mức 1,1 tỉ Đô la Mỹ của năm 2008.
Có thể điểm qua một số vụ M&A “đình đám” của năm qua. Tháng 2/2009, giữa lúc VN-Index trôi về 235 điểm, tập đoàn Viettel thông báo mua 35 triệu cổ phiếu của Vinaconex với giá 20.000 đồng/cổ phiếu, tổng cộng 700 tỉ đồng.
Lúc đó Viettel là “cứu cánh” của Vinaconex vì giá Vinaconex trên sàn HNX chỉ có 13.000-14.000 đồng và tổng công ty không thể phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn với giá 20.000 đồng/cổ phiếu như nghị quyết hội đồng quản trị trước đó.
Chỉ biết trước đó ít lâu, Viettel đã trở thành cổ đông chiến lược của Ngân hàng Quân đội khi mua cổ phiếu với giá bằng mệnh giá. Viettel đã tận dụng được cơ hội mua lại doanh nghiệp “trăm năm có một”!
Sau Viettel còn không ít những vụ M&A đáng chú ý. Chẳng hạn Unilever mua lại 33,33% cổ phần của tập đoàn hóa chất Vinachem trong liên doanh Unilever Vietnam và biến công ty này thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Cũng với ý định thâu tóm toàn bộ, Tập đoàn Motul chuyên sản xuất và phân phối dầu nhờn của Pháp, đã mua lại 70% cổ phần của Công ty Vilube. Tháng 12/2006 Motul đã mua 30% cổ phần Vilube và lần mua năm ngoái là hoàn tất việc chuyển Vilube thành công ty của Motul. Công ty Jardine Cycle & Carriage (
Trong ngành thực phẩm, đồ uống, giới tài chính nhắc nhiều đến vụ Vietnam Azalea Fund đầu tư 9,4 triệu Đô la Mỹ vào Masan Foods; International Consumer Products (ICP) nắm cổ phần chi phối 51% ở Công ty Cổ phần Thực phẩm Thuận Phát; Kinh Đô, Uni-President mua lại 72,6% cổ phần của Công ty Cổ phần Thực phẩm và Thức uống Sài Gòn với giá 8,8 triệu Đô la Mỹ.
Gần đây nhất, hãng bia nổi tiếng
Khác với năm 2008, M&A trong lĩnh vực bất động sản và tài chính năm 2009 không ở mức kỳ vọng. Có thể sự trầm lắng của thị trường bất động sản và ngân hàng không còn thu hút các nhà đầu tư. Khủng hoảng tài chính toàn cầu làm cho cơ hội tạo lợi nhuận từ đầu tư vào ngân hàng và bất động sản Việt Nam trở thành ít hấp dẫn hơn các thị trường phát triển Âu - Mỹ.
Ngoài trường hợp HSBC nâng tỷ lệ sở hữu tại Tập đoàn Bảo Việt lên 25% và BIDV mua lại Ngân hàng Đầu tư Thịnh Vượng Campuchia (đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Campuchia), không thấy có trường hợp mua bán ngân hàng nào đáng ghi nhận. Còn việc chuyển nhượng các dự án bất động sản đều ở quy mô nhỏ và kém công khai.
M&A tư nhân và chuyển nhượng nội bộ
Theo Công ty Value Vietnam, có thể chia các vụ M&A chủ yếu làm hai loại: loại có giá trị mua bán dưới 5 triệu Đô la Mỹ và loại vừa, giá trị dưới 20 triệu Đô la Mỹ. Loại có giá trị chuyển nhượng từ 20 triệu Đô la Mỹ trở lên chưa phổ biến.
Đứng từ góc độ người mua kẻ bán, thì 40% hoạt động M&A là nước ngoài mua lại cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam; 40% khác là đối tác Việt Nam mua bán lại của nhau và 20% thuộc dạng nước ngoài mua bán nước ngoài hoặc doanh nghiệp Việt Nam mua lại công ty nước ngoài.
Ở phía Việt Nam, các doanh nghiệp mua và bán phần lớn là dân doanh. Không bị ràng buộc bởi các cơ quan quản lý cấp trên như doanh nghiệp nhà nước, các công ty tư nhân đàm phán dứt khoát hơn, quyết định nhanh hơn và tỏ ra linh hoạt hơn về thời điểm chuyển nhượng cũng như giá cả.
Trên thực tế, hoạt động M&A diễn ra cả trong khối doanh nghiệp quốc doanh, nhưng nó chỉ mang tính sắp xếp, tái cơ cấu trong phạm vi tập đoàn, tổng công ty. Thí dụ tập đoàn Dầu khí đã và đang cơ cấu lại những đơn vị thành viên, như Công ty Tài chính Dầu khí PVFC nhận phần vốn góp của PetroVietnam trong Công ty Cho thuê máy bay; hoặc Công ty Xây lắp dầu khí nhận chuyển nhượng vốn từ Công ty Dịch vụ đường cao tốc dầu khí.
Quý 3/2009, Công ty Dịch vụ kỹ thuật dầu khí PTSC đã ký hợp đồng chuyển nhượng vốn và bàn giao Công ty Quản lý và khai thác tài sản dầu khí, Công ty Thương mại, dịch vụ dầu khí biển, Công ty Khách sạn dầu khí cho Công ty Dịch vụ tổng hợp dầu khí (PET). Cả ba đơn vị PVFC, PTSC, PET đều niêm yết trên thị trường chứng khoán và những cuộc chuyển nhượng trong phạm vi nội bộ của PetroVietnam như vậy làm thay đổi tương đối quy mô vốn, kết quả kinh doanh của cả bên nhận và bên giao.
Một trong những điểm nóng của M&A, nhưng lại chưa cho những kết quả cụ thể là viễn thông và phân phối bán lẻ. Tiềm năng phát triển của Việt Nam trong hai lĩnh vực này rất lớn, hứa hẹn triển vọng lợi nhuận cao và các đối tác nước ngoài tỏ ra nôn nóng, đặc biệt Việt Nam đã cam kết với WTO mở cửa thị trường dịch vụ phân phối cho nước ngoài từ 1/1/2009.
Tuy nhiên cho đến nay, các kế hoạch cổ phần hóa và phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng của các doanh nghiệp viễn thông như Vinaphone, MobiFone vẫn chậm trễ. Xác định giá trị doanh nghiệp của những công ty trên, trong đó có cả phát triển hệ thống khách hàng tương lai, đang bị ách tắc.
Trong phân phối bán lẻ, các đơn vị Việt Nam vẫn tiếp tục hoàn thiện, nói một cách khác là tự nuôi lớn mình, trước khi có thể bắt tay với nước ngoài. Ở Việt Nam hiện nay, không phải khâu sản xuất, mà chính là khâu phân phối, đang mang lại lợi nhuận cao hơn cả cho giới đầu tư.
Cuối cùng, một ghi nhận không thể không có của M&A là hiện tượng mua bán công ty, thoái vốn nhằm tái cơ cấu danh mục đầu tư của các quỹ nước ngoài ở Việt Nam. Sức ép phải gia tăng giá trị tài sản ròng từ phía cổ đông đang khiến một số quỹ từ bỏ quyền sở hữu ở những công ty tư nhân (private equity), thậm chí ở cả các công ty niêm yết mà họ đã nắm giữ cổ phần 5-10 năm nay.
Thoái vốn, không có nghĩa là “ôm” tiền mặt, các quỹ sẽ phải “săn lùng” cơ hội đầu tư mới. Từ nhu cầu bức thiết này của họ, hoạt động M&A mà người mua bán là các quỹ, có thể sẽ nhộn nhịp trong năm 2010.
Lưu Hảo (TBKTSG)
Tin tức trong ngày 05/03/2010
- Mạng xã hội tại Việt Nam: Mới chỉ khởi đầu…
- Firefox 3.7 Alpha 2 – Nhanh hơn, an toàn hơn
- Chuẩn Bluetooth 4.0 sẽ sớm có mặt trong năm nay
Xem tất cả các tin trong ngày 05/03/2010
Tin mới

























