17/12/2009 |

5 lựa chọn dịch vụ web thay thế hệ điều hành Chrome OS
người đăng Administrator |
Trong bài chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn 5 lựa chọn dịch vụ web thay thế cho hệ điều hành Chrome OS giúp đóng gói các tính năng hữu ích và dễ dàng truy cập nội dung trực tuyến của bạn.
Cloudo
Hiện đang trong phiên bản beta, Cloudo được mô tả là cung cấp cho tất cả mọi người một "máy tính miễn phí" vì nó cho phép "mọi máy tính, trong trường học, tại nơi làm việc hoặc thậm chí trong thư viện" trở thành của riêng bạn. Cloudo cho phép bạn đăng nhập vào tài khoản người dùng của mình từ bất cứ địa điểm nào. Chương trình cũng rất linh hoạt: bạn có thể thay đổi giao diện người dùng (UI), bên cạnh đó các nhà phát triển cũng có thể phát triển các ứng dụng của họ cho nền tảng này.
Cloudo dự kiến sẽ chính thức khởi động vào năm tới, nhưng bạn có thể dùng thử bản beta miễn phí ngay bây giờ.
Glide
Với phiên bản hiện hành 4.0, Glide có trong danh sách 100 sản phẩm đầu của năm 2009, sản phẩm này cho phép đồng bộ máy tính để bàn trực tuyến với điện thoại di động của bạn, cho phép kết nối khá liên tục đến dữ liệu của bạn.
Web desktop dựa trên Flash này hỗ trợ nhiều người dùng máy tính để bàn, giống như máy PC của bạn, và cung cấp không gian lưu trữ đám mây ấn tượng 20GB, thêm vào đó là không có bất kỳ quảng cáo nào làm phiền bạn.
Tham khảo thêm tại đây.
Jolicloud
Dự án được bắt đầu vào mùa hè năm 2008, Jolicloud nhằm trang bị cho các máy tính netbook, giống như những gì về Chrome OS. Một loạt các thiết bị tương thích có thể tìm thấy trên trang web Jolicloud, tuy nhiên danh sách này vẫn đang được phát triển.
Ý tưởng đằng sau Jolicloud là tạo ra một hệ điều hành thêm "hữu cơ", loại bỏ sự cần thiết cho phần mềm tốn kém bằng các lựa chọn thay thế web.
Bạn có thể tham khảo sự tiến bộ của Jolicloud trên Twitter.
EyeOS
EyeOS là một trong những hệ điều hành đám mây đã được thiết lập từ nhiều năm trước đây. Kể từ khi khởi chạy của nó, hệ điều hành điện toán đám mây mã nguồn mở đã đi vào hỗ trợ từ các công ty và các tổ chức như những người dùng.
Với một loạt các phần mềm đóng gói - bao gồm phần mềm văn phòng và môi trường phát triển - EyeOS là một thay thế tuyệt vời cho Chrome OS. Bạn có thể thử ở đây.
Windows4All
Windows4All bắt chước môi trường desktop của Windows 7. Nó cung cấp nhiều chương trình cơ bản để phát hành với sản phẩm thực như Paint, Notepad và Solitaire, Windows4All là một thử nghiệm nhiều hơn là một hệ điều hành web hợp pháp. Dù bằng cách nào thì nó vẫn tạo nên một cảm nhận thú vị trong trình duyệt.
Theo QuanTriMang (PC World)
Hé mở bí mật về “Doanh nghiệp 2.0” (Phần 1)
người đăng Administrator |
Những sáng kiến hợp tác có sự hỗ trợ của công nghệ thường thất bại vì 5 sai lầm phổ biến trong nhận thức. Hóa giải 5 ngộ nhận ấy là cách duy nhất để các công ty gặt hái lợi nhuận từ những sáng kiến nêu trên.
Cộng tác kỹ thuật số là xu hướng đang hết sức thịnh hành trong thế giới kinh doanh ngày nay. Các công ty trong mọi lĩnh vực đều đang ứng dụng những nền tảng công nghệ phần mềm hợp tác để giúp nhân viên nâng cao hiệu quả và chất lượng đầu ra của công việc. Một nghiên cứu do Forrester Research thực hiện tháng 5/2009 cho thấy gần 50% số công ty tại Mỹ sử dụng một phần mềm xã hội nào đó. Tiếp đến, cuộc khảo sát do Prescient Digital Mediat thực hiện tháng 7 vừa rồi cho thấy 47% lượng người tham gia khảo sát đang sử dụng wiki (từ điển bách khoa toàn thư mở), 45% có sử dụng blog (nhật ký điện tử, website cá nhân) và 46% có tham gia các diễn đàn thảo luận nội bộ.
Tác nhân hỗ trợ xu hướng này chính là Web 2.0, một thuật ngữ được khai sinh vào năm 2004 nhằm mô tả khả năng của Internet cho phép mọi người, cả những người không rành công nghệ, kết nối với người khác và đóng góp nội dung thông tin. Facebook, Twitter, YouTube, và Wikipedia là những ví dụ tiêu biểu nhất cho xu hướng này và đã trở thành một trong nhiều nguồn tài nguyên web được mọi người ưa chuộng nhất.

Ba năm trước, tôi khai sinh thuật ngữ Doanh nghiệp 2.0 để nhấn mạnh thực tế rằng công nghệ Web 2.0 là con đường dành cho những công ty khôn ngoan, đồng thời, nó còn là phương pháp nền tảng cho hợp tác và sáng tạo nội dung.
Doanh nghiệp 2.0, mà thỉnh thoảng tôi viết tắt là E2.0, nói về cách thức một tổ chức sử dụng các nền tảng phần mềm xã hội đang thịnh thành (ESSP) để theo đuổi mục đích của mình. Định nghĩa này nhấn mạnh đặc tính nổi bật nhất của các công nghệ mới: Chúng không áp đặt trước khối lượng công việc, vai trò và trách nhiệm, hay tính tương thuộc giữa mọi người, mà thay vào đó, cho phép những yếu tố trên xuất hiện một cách tự nhiên.
Đây là một bước chuyển biến quan trọng. Hầu hết các công ty đều đang sử dụng các ứng dụng như phần mềm ERP hay CRM có khả năng tạo ra các quy trình kinh doanh liên chức năng cũng như xác định chính xác, dù rất chi tiết những lại kém linh hoạt, người nào làm việc gì vào lúc nào, và ai sẽ chịu trách nhiệm cho những quyết định nào.
Với E2.0 thì ngược lại, nó đòi hỏi các công ty phải tiến hành theo cách đối lập hoàn toàn: để cho mọi người sáng tạo và cải tiến nội dung mà không có, hoặc có rất ít, các điều kiện xác định trước. Khi sử dụng ESSP, các mô thức và cấu trúc sẽ liên tục hình thành và cải tiến theo thời gian.
Sử dụng ESSP mang đến nhiều lợi ích. Những công cụ này giúp mọi người nhanh chóng tìm ra thông tin và chỉ dẫn - và hạn chế trùng lắp công việc. Chúng giới thiệu nhiều quy trình sáng tạo cho nhiều người hơn, đây thực sự là một lợi thế bởi theo Eric Raymond, một người cổ vũ xu hướng phần mềm mã nguồn mở, thì "bọ tin học" không còn khi nhiều người cùng quan sát và sữa chữa".
Những phần mềm này tận dụng triệt để trí thông minh tổng hợp và sự thông thái của đám đông để tìm kiếm lời giải cho nhiều bài toán hóc búa. Chúng cho phép con người xây dựng, duy trì và hưởng lợi từ những mạng lưới xã hội rộng lớn. Chúng cho phép các vị quản lý thực hiện ước mơ xây dựng một kho chứa vạn vật được cập nhật đến từng phút. Phục vụ cho những lợi ích này là một phong cách tương tác và hợp tác khá tự nhiên, không bị gò bó vào thứ bậc, khuôn khổ.
Tuy nhiên, E2.0 vẫn chưa mang đến kết quả, thậm chí là kết quả ban đầu. Nhiều công ty từ chối thử sức bởi những hạn chế có thể có của nó - chẳng hạn như việc sử dụng blog sai mục đích hay nạn trộm cắp thông tin - có vẻ như rất cụ thể và tức thì trong khi lợi ích nhận được là thứ vì đó mơ hồ và xa xôi.
Hơn nữa, nhiều tập đoàn đang dần từ bỏ những sáng kiến E2.0 ban đầu của họ, vì 3 lý do sau: Một là, nhiều người tỏ ra hoài nghi giá trị của những công cụ hợp tác này, thậm chí khi người ta đang sử dụng nó một cách chủ động. Hai là, ấn tượng ban đầu về ESSP không thực sự rõ nét. Những trang nội dung trên wiki của doanh nghiệp trông giống như văn bản hay trang sách; bài viết trên blog thì trông giống như bản tin còn những trang cá nhân thì trông giống như trang cá nhân trên Facebook. Ba là, nhiều dự án không bao giờ được thực hiện. Nhân viên thì không mặn mà với việc sử dụng công nghệ mới trong khi nhà tài trợ thì cảm thấy dự án là một sự lãng phí, thay vì là một vùng đất hứa như họ mong đợi.
Trên thực tế, cuộc khảo sát năm 2008 của McKinsey cho thấy chỉ 21% số công ty cảm thấy hoàn toàn hài lòng với những sáng kiến E2.0 và 22% hoàn toàn thất vọng.
Tôi đã và đang nghiên cứu nhiều dự án E2.0, cả thành công lẫn thất bại, kể từ khi các công ty bắt đầu ứng dụng những công nghệ này vào 4 năm về trước. Nghiên cứu của tôi cho thấy rằng dù có nhiều thất bại nhưng thành công của những dự án này là hết sức ấn tượng - và lẽ ra sẽ có nhiều thành công vang dội hơn nếu các công ty biết cách sử dụng các công cụ một cách hiệu quả. Hầu hết các sáng kiến thất bại vì 5 ngộ nhận phổ biến. Các dữ liệu, nghiên cứu và bài học tình huống đều chứng tỏ rằng 5 niềm tin đó là sai lầm; chúng chỉ là những chuyện hoang đường về Doanh nghiệp 2.0.
Ngộ nhận 1: Với E2.0, rủi ro nhiều hơn lợi ích
Khi lần đầu tiên nghe về cách thức hoạt động của Doanh nghiệp 2.0, nhiều CEO khó mà chấp nhận việc cho phép mọi người tự do đóng góp cho nền tảng nội dung của công ty. Họ nêu ra một chuỗi các lo lắng như: Nếu như ai đó đăng ý kiến mang tính thù địch hay ảnh khỏa thân thì sao? Liệu nhân viên sẽ không tận dụng diễn đàn để bôi nhọ công ty, ca thán những vấn đề cá nhân hay phê bình đường lối và chiến lược lãnh đạo? Liệu những công nghệ này có ngăn không cho các thông tin quý báu bị tuồn ra ngoài một cách dễ dàng và được bán cho ai ra giá cao nhất không?
Nếu chúng ta sử dụng những công cụ này, làm thế nào chúng ta tránh không phá vỡ những thỏa ước về chia sẻ thông tin với các đối tác? Nếu đối thủ cạnh tranh sử dụng các trang web giao tiếp với khách hàng để bôi nhọ hay phỉ báng sản phẩm và dịch vụ của chúng ta thì sao? Liệu chúng ta có chịu trách nhiệm về những thông tin không chính xác hay những lời khuyên tồi đăng trên diễn đàn mà chúng ta làm chủ hay không? Liệu nhân viên sẽ không dùng phần mềm cộng tác để lập kế hoạch cho những sự kiện xã hội thay vì là các hoạt động liên quan đến công việc?
Trên lý thuyết, tất cả những nguy cơ trên đều tồn tại - nhưng hiếm khi chúng xuất hiện trong thực tế. Trong hơn 4 năm qua, tôi hỏi bất kỳ công ty nào tôi cộng tác về những sự cố tồi tệ nhất từng xảy ra với ESSP của họ. Bộ sưu tập những câu chuyện đáng sợ của tôi gần như trống rỗng.
Tuy nhiên, tôi cũng chợt nghĩ ra một tình huống khiến tôi phân vân rằng không biết công ty có nên đầu tư vào công nghệ E2.0 không. Đó là một buổi trò chuyện đặc biệt. Cuối năm 2007, khi tôi đang huấn luyện một nhóm các Giám đốc nhân sự thì có một vị trình bày rằng lãnh đạo công ty cô, nơi đa phần nhân viên đều rất trẻ, đang lo lắng không biết nhân viên của mình thể hiện như thế nào trên mạng. Khi nhóm của cô bắt đầu lùng sục Facebook, MySpace và nhiều trang web khác, họ phát hiện ra rằng hầu như mọi nhân viên đều nói về công ty mình một cách rất đàng hoàng.
Điều tồi tệ nhất mà nhóm cô phát hiện ra là bức ảnh một buổi huấn luyện mà trong đó những con số kế toán vẫn hiện mờ mờ trên tấm bảng trong khung hình. Khi được thông báo, người nhân viên đã đăng tấm hình ấy ngay lập tức xin lỗi và gỡ nó xuống. Dù không nhất thiết phải thế nhưng những con số quả thật khiến người khác cảm thấy công ty yếu kém.
Có bốn yếu tố kết hợp với nhau khiến cho những câu chuyện rùng rợn về E2.0 trở nên vô cùng hiếm hoi. Một là, dù tính vô danh gần như là một yếu tố mặc định trên Internet nhưng trong mạng nội bộ công ty, những quy chuẩn trong đời sống thực hằng ngày vẫn được áp dụng. Người dùng vẫn tỏ ra thận trọng và không bao giờ công kích đồng nghiệp. Nếu nhân viên nào có những hành vi xấu, công ty có thể phát hiện ra, khuyên nhủ, giáo dục và nếu cần thiết sẽ có hình thức kỷ luật.
Hai là, mọi người tham dự thường có tính cộng đồng và nhanh chóng phản ứng nếu họ cảm thấy ai đó đang vi phạm các quy chuẩn. Những đóng góp không mang tính xây dựng thường gặp phải một làn sóng phản ứng mà sẵn sàng chỉ ra vì sao nội dung đóng góp vượt quá giới hạn cho phép, nội dung các quy chuẩn là gì và làm thế nào để sửa chữa.
Ba là, bên cạnh các lãnh đạo chính thức của tổ chức, những lãnh đạo của cộng đồng trên mạng hình thành nên thế cân bằng. Họ thực sự có ảnh hưởng rất lớn và có vai trò định hình hành vi của nhân viên trên mạng.
Bốn là, Internet đã được ứng dụng rộng rãi trong hơn một thập kỷ qua, vì vậy hầu như mọi người đều biết cách ứng xử thích hợp với các tình huống trên mạng.
Nếu các tập đoàn vẫn không tin những yếu tố này là đủ để có thể bảo vệ họ, họ có thể dễ dàng xây dựng một quy trình quản lý mà theo đó ban giám đốc sẽ chịu trách nhiệm hiệu đính thông tin trước khi chúng xuất hiện trên mạng. Sự thận trọng này rất thường gặp ở những trang web giao tiếp trực diện với khách hàng, nơi thư rác và những kẻ phá rồi thường xuyên hoành hành, tuy nhiên, các công ty hoàn toàn có thể áp dụng cách thức này trong nội bộ công ty mình.
Đừng quên rằng e-mail và tin nhắn đều vô hình với mọi người ngoại trừ người gửi và người nhận, trong khi đó, ESSP khiến cho nội dung thông tin trở nên hữu hình và nhờ đó, nó sẽ nằm dưới sự giám sát của toàn bộ nhân viên. Sẽ là một ngộ nhận nếu nghĩ E2.0 là rủi ro, trái lại, nó giúp công ty hạn chế những rủi ro có thể gặp.
(còn nữa)
- Bài viết của Andrew P. McAfee trên Harvard Business Review -
Nộp thuế qua ngân hàng
người đăng Administrator |
Nộp thuế qua ngân hàng là một trong những bước cải cách thủ tục hành chính giúp DN tiết kiệm được chi phí "bôi trơn", giảm tải đáng kể cho cơ quan thu thuế, đồng thời góp phần đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt trong khu vực công.
Hiện có ba ngân hàng lớn đang triển khai dịch vụ thu thuế là VietinBank, BIDV và AgriBank. Trong đó, sớm nhất là VietinBank và địa phương thực hiện thí điểm đầu tiên là Hải Phòng.
Trên cơ sở hướng dẫn của Thông tư 128/2008/TT-BTC ngày 24/12/2008 của Bộ Tài chính và chủ trương triển khai hiện đại hóa hệ thống thông tin thu nộp NSNN, liên ngành kho bạc - VietinBank - Tổng cục Thuế đã ký kết thỏa thuận liên tịch Quy trình phối hợp thu NSNN và đã triển khai thí điểm trên địa bàn Hải Phòng từ tháng 3/2009 và đến nay đã triển khai chính thức trên 9 địa bàn tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Khánh Hòa, Vũng Tàu, TP HCM, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Hà Nội, Tiền Giang.
Theo báo cáo của VietinBank, tính đến hết ngày 30/11/2009 doanh số thu nộp NSNN qua hệ thống VietinBank đạt trên 6.000 tỷ đồng với hơn 70.000 giao dịch (trong đó, doanh số thu thuế hải quan thí điểm trên địa bàn Hải Phòng trong tháng 11/2009 là 1.600 tỷ đồng với hơn 6.000 món).
|
90% DN ở Hải Phòng đã thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước qua hệ thống ngân hàng chỉ sau 3 tháng dịch vụ này được thí điểm tại địa phương.
|
Ông Nguyễn Văn Thạnh - Phó Tổng giám đốc VietinBank cho biết: thay vì đến nộp tại KBNN quản lý khoản thu mà số lượng điểm giao dịch của KBNN còn hạn chế, nay người nộp thuế có thể đến các địa điểm thu khác của ngân hàng được KBNN ủy quyền để được tư vấn nộp thuế, thực hiện thủ tục nộp NSNN nhanh chóng, thuận tiện và an toàn, tiết kiệm thời gian.
Khi khách hàng đến làm thủ tục nộp thuế, ngân hàng sẽ in 2 chứng từ, một chứng từ giao cho khách hàng và một chứng từ được chuyển về Trung tâm trao đổi của Bộ Tài chính sau đó sẽ chuyển xuống Kho bạc nhà nước. Ông Thạnh cũng cho biết thêm, hiện VietinBank là ngân hàng duy nhất có biện pháp chống làm giả chứng từ, đảm bảo an toàn cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ này. Ngân hàng không thu bất kỳ khoản phí nào của khách hàng khi đến nộp thuế. Khách hàng có thể đến ngân hàng thực hiện giao dịch đến tận 19 h hàng ngày, giao dịch cả sáng thứ 7.
Thực hiện dự án thu thuế qua Ngân hàng, mới đây các đơn vị Hải quan - Kho bạc và VietinBank đã rà soát, kiểm tra những nội dung đã chuẩn bị nhằm tổ chức triển khai uỷ nhiệm thu cho các DN XNK tại các phòng giao dịch, chi nhánh của VietinBank tại TP Hải Phòng. Vấn đề về nhân lực cũng như hạ tầng kỹ thuật tại Hải quan - Kho bạc và VietinBank cũng đã được chuẩn bị sẵn sàng đáp ứng yêu cầu kết nối thông suốt kịp thời. Cụ thể sẽ áp dụng những công nghệ tiên tiến nhất để bảo đảm việc truyền thông tin giữa Hải quan và Ngân hàng đạt hiệu quả và an toàn.
Trong năm 2010, VietinBank cho biết sẽ triển khai mở rộng trên toàn quốc và phát triển thu liên chi nhánh đa điểm, đa địa bàn. Trước mắt, tập trung trong quý 1/2010 sẽ phối hợp triển khai mở rộng đối với các chi nhánh còn lại tại địa bàn Hà Nội và một số địa bàn mới. Đặc biệt, VietinBank sẽ phối hợp với liên ngành để triển khai hiệu quả dịch vụ thu NSNN qua hệ thống ATM. Thậm chí tiến tới nộp thuế qua hệ thống Internet Banking của ngân hàng, nghĩa là khách hàng ngồi tại nhà vẫn có thể thực hiện việc chuyển tiền. Đây cũng là ngân hàng đầu tiên kết nối trực tiếp với cổng thông tin của Bộ Tài chính, giảm tối đa độ trễ của giao dịch thực hiện.
Nhằm khuyến khích hơn nữa việc nộp thuế qua ngân hàng, ông Thạnh cũng cho rằng nên có cơ chế thưởng trực tiếp cho những DN nộp thuế trước hạn để vừa nâng cao ý thức của DN, vừa giảm tải các giao dịch dồn dập vào các ngày cuối tháng.
P.V-DDDN
Chứng khoán sáng hơn trong năm 2010
người đăng Administrator |
Cơ sở cho các nhận định này là các dự báo về sự cải thiện đáng kể của nền kinh tế thế giới và Việt Nam. Sự cải thiện này sẽ tác động thuận chiều tới hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết, sự tăng trưởng của các ngành, cơ sở tạo nên những chuyển biến tích cực cho thị trường chứng khoán.
Ông Ngô Phương Chí, Phó Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC), theo đà phục hồi kinh tế sẽ có một số ngành đạt được sự tăng trưởng nhanh hơn tương đối so với các ngành khác. :Như chuyển động có thể với làn sóng từ tài chính-ngân hàng, hàng tiêu dùng, viễn thông, vật liệu cơ bản, xây dựng và bất động sản... Nhà đầu tư có thể xem xét nghiên cứu thêm về các ngành này để tìm cho mình những cơ hội đầu tư phù hợp”, ông Chí nhận định.
Ông Trần Anh Tuấn, Giám đốc Nghiên cứu, CTCP Quản lý quỹ Việt Nam (VFM) kỳ vọng từ tháng 1/2010, tình hình sẽ ổn định trở lại khi một phần đáng kể trong hơn 400 ngàn tỷ đồng vốn vay ngắn hạn được hỗ trợ 4% sẽ quay lại ngân hàng khi thời hạn hỗ trợ kết thúc vào 31/12/2009.
“Sau thời điểm này, sức ép tăng lãi suất và nhu cầu nhập khẩu sẽ dần giảm bớt. Tuy nhiên chúng tôi không loại trừ khả năng tăng nhẹ lãi suất cơ bản trong quý I hoặc Quý II/2010 nếu như lạm phát cao hơn dự báo của Chính phủ”, ông Tuấn nói.
Đánh giá về thị trường chứng khoán năm 2010, ông Tuấn cho rằng, các yếu tố thu nhập bất thường như hoàn nhập dự phòng đầu tư chứng khoán, chênh lệch giá nguyên liệu hay định giá lại tài sản như năm 2009, ưu đãi về hỗ trợ lãi suất 4% không còn.
“Do vậy, theo ước tính của chúng tôi năm 2010 sẽ không có nhiều tăng trưởng về lợi nhuận so với năm 2009. Dự báo tăng trưởng về lợi nhuận từ hoạt động truyền thống của doanh nghiệp đạt khoảng 10%, nhưng mức tăng này nhiều khả năng không bù đắp được sự gia tăng quá mức về việc hoàn nhập dự phòng năm 2009 cũng như những hỗ trợ từ các gói kích cầu. Do đó toàn thị trường nhiều khả năng có mức tăng trưởng lợi nhuận dao động từ -5% đến +5% trong năm 2010”, ông nói và giữ quan điểm P/E thị trường ở mức hợp lý khoảng 15 lần đến 16 lần, tương ứng với thị trường 550 đến 580 điểm cho năm 2010 là mức hợp lý để tham gia đầu tư.
Xu thế tăng dài hạn của thị trường có thể sẽ tiếp tục được củng cố và giữ vững trong năm 2010 là dự báo của nhiều chuyên gia. Tuy nhiên, trong quá trình đi lên, Vn-Index sẽ có những giai đoạn điều chỉnh đan xen và mức độ điều chỉnh của mỗi đợt sẽ phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế vĩ mô cũng như vi mô tại từng thời kỳ.
Chính vì vậy, việc lựa chọn thời điểm ra vào hợp lý cũng là điều nhà đầu tư cần hết sức lưu ý.
Để giảm thiểu việc thao túng giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, ngoài việc tăng cường quản lý giám sát từ phía các Sở GDCK, ông Nguyễn Sơn, Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường, Uỷ ban chứng khoán Nhà cho biết sẽ đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin và quy trình giám sát các tài khoản giao dịch. Qua đó, phát hiện các giao dịch bất thường để sàng lọc, theo dõi và có hướng xử lý kịp thời.
Sắp tới, việc Trung tâm Lưu ký Chứng khoán đưa vào ứng dụng hệ thống lưu ký mới sẽ cho phép giám sát đến từng tài khoản của nhà đầu tư, giúp tăng khả năng giám sát đối với các giao dịch nghi vấn.
Mặt khác, việc tăng các chế tài xử lý vi phạm hành chính (sửa Nghị định 36) theo hướng tăng khung mức phạt cho các tội danh cũng làm tăng tính răn đe, từ đó góp phần giảm thiểu các hành vi giao dịch không công bằng.
Theo Chí An - Đầu tư
Giá vàng, dầu đồng loạt tăng
người đăng Administrator |
Ông Jim Steel, trưởng bộ phận giao dịch kim loại tại ngân hàng HSBC, cho rằng giá hàng hóa cao, đặc biệt là giá dầu tăng cao do thông tin dự trữ dầu thô Mỹ giảm xuống.
Giá vàng giao kỳ hạn tăng trở lại trong phiên giao dịch ngày thứ Tư, giá dầu tăng nhờ thông tin về trữ lượng dầu, đồng USD suy yếu.
Giá vàng giao tháng 2/1010 tăng 13,20USD/ounce tại thị trường New York. Sau khi giao dịch trên thị trường vàng đóng cửa, chỉ số USD hạ 0,142 xuống mức 76,819 điểm.
Ông Frank Lesh, chuyên gia môi giới và giao dịch kỳ hạn tại FuturePath Trading, nhận xét: “Mỗi khi đồng USD yếu, giá vàng hồi phục trở lại.”
Ông Jim Steel, trưởng bộ phận giao dịch kim loại tại ngân hàng HSBC, cho rằng giá hàng hóa cao, đặc biệt là giá dầu tăng cao do thông tin dự trữ dầu thô Mỹ giảm xuống.
Ủy ban thị trường mở của FED sau buổi họp kéo dài 2 ngày đã duy trì lãi suất ở mức không đổi và không đưa ra nhiều thay đổi trong tuyên bố của họ về kinh tế Mỹ và thị trường.
Chuyên gia thuộc ngân hàng Standard Bank nhận định: “Dù lãi suất cơ bản lần này chưa thay đổi, tuyên bố đi kèm đã cho thấy các gói kích cầu có thể bị rút đi, đặc biệt là khi số lượng về thị trường việc làm cho thấy sự cải thiện.”
Giá dầu leo lên gần mức 73USD/thùng tại thị trường New York, báo cáo từ chính phủ cho thấy dự trữ dầu thô giảm gấp đôi so với dự báo của các chuyên gia, FED tuyên bố tiếp tục duy trì lãi suất cơ bản ở 0% đến 0,25%.
Giá dầu giao tháng 1/2010 tăng 1,97USD/thùng tương đương 2,79% lên mức 72,66USD/thùng. Phiên ngày thứ Ba, giá dầu hồi phục sau khoảng thời gian 9 phiên đi xuống liên tiếp. Trong phiên đó, giá dầu tăng 1,18USD/thùng lên mức 70,69USD/thùng.
Ông James Cordier, chủ tịch quỹ giao dịch Liberty Trading Group, cho biết trữ lượng dầu thông thường giảm ở thời điểm cuối năm, tuy nhiên sau khoảng thời gian tăng liên tục, việc trữ lượng dầu giảm lần này khiến thị trường ngạc nhiên.
Theo Dân Trí/Bloomberg, Reuters
Tham vọng bành trướng trên thị trường mobile: Sai lầm của Google?
người đăng Administrator |
Google có thể sẽ phá hủy toàn bộ chiến lược dài hạn để “vươn vòi rồng” ra thị trường dịch vụ web di động nếu sản xuất điện thoại, đối đầu với các đối tác đang sử dụng hệ điều hành Android của hãng.
Điện thoại Nexus One sẽ có "hệ lụy" gì với Google?
Giới phân tích cho rằng Google đã ít nhiều gặt hái được thành công khi nhiều hãng sản xuất điện thoại đã tìm tới hệ điều hành Android để tích hợp cho các dòng điện thoại đời mới. Tuy nhiên, mục tiêu tăng doanh thu từ Android có thể sẽ bị phá hủy khi gã khổng lồ trong lĩnh vực tìm kiếm xuất trình điện thoại mang tên Google. Động thái này được xem như là “đòn phủ đầu” với các đối tác.
Theo nhiều nguồn tin, Google sẽ ra mắt điện thoại của chính hãng sản xuất vào đầu năm 2010. Có thể đây là một sai lầm trị giá hàng triệu tỷ USD. Giới phân tích cho rằng, điều Google nên làm là đưa Android đến với càng nhiều điện thoại càng tốt thay vì sản xuất điện thoại của riêng mình.
Bởi, “Google sẽ tự xây một “tường thành” bất khả xâm phạm nếu sản xuất điện thoại”, Anil Doradla, một nhà phân tích của hãng William Blair & Company, nói. Giới phân tích có vẻ không hiểu động cơ của Google khi quyết định gia nhập thị trường rất cạnh tranh nhưng lại không hề có kinh nghiệm.
Một số người cho rằng gã khổng lồ trong lĩnh vực tìm kiếm trực tuyến đang cố gắng thách thức ngôi vị thống lĩnh của Apple trên thị trường smartphone bằng hệ điều hành Android.
Các điện thoại sử dụng hệ điều hành Android đã ít nhiều “hãm” sự bành trướng của Apple iPhone. Thế nên, Google quyết định sản xuất điện thoại của riêng mình để “vững chân kiềng” nhằm “hạ bệ” Apple. Tuy nhiên, không giống như Apple - đã có kinh nghiệm sản xuất phần cứng lâu đời nên việc gia nhập thị trường di động không gặp nhiều khó khăn, Google chuyên về phần mềm web nên sức mạnh vốn có của hãng không giúp ích gì nhiều khi hãng này sản xuất điện thoại.
Giới phân tích còn cho rằng Google sẽ phạm phải sai lầm lớn nếu thực sự hãng này đang sản xuất smartphone mang tên Nexus One. 12 hãng sản xuất điện thoại sử dụng phần mềm Android sẽ sớm tìm đường rút lui khi điện thoại Google ra đời, dù Nexus One thất bại hay thành công.
Motorola, hãng sản xuất điện thoại Mỹ đang tìm mọi cách để thoát khỏi “bùn lầy”, đã sản xuất điện thoại Android và đã gây được tiếng vang lớn. Rõ ràng, Motorola không muốn phải đối đầu với nhiều đối thủ, đặc biệt là với Google vốn là đối tác của mình. Hơn nữa, nếu Nexus One thành công thì Motorola Droid bị bỏ quên và hãng sẽ phải chia tay Android để tìm “kế sinh nhai” khác.
Theo các nhà phân tích, Google nên tìm con đường khác để “hạ bệ” Apple, chẳng hạn như cung cấp các điện thoại miễn phí hay dịch vụ miễn phí thông qua các hãng viễn thông.
T.Vũ - Dantri.com.vn
Theo Reuters
Thiếu khảo sát về nhu cầu nhân lực cho TMĐT
người đăng Administrator |
Cần có một nghiên cứu đầy đủ nhằm dự báo nhu cầu nhân lực thương mại điện tử (TMĐT) sau 2010 để có kế hoạch tổng thể phát triển nhân lực.
Đó là thông điệp chính tại hội thảo quốc tế “Thương mại điện tử và phát triển nguồn nhân lực” do Bộ Công Thương chủ trì diễn ra sáng 16/12/2009 tại Hà Nội.
Mở đầu hội thảo, Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Danh Vĩnh nhận định “để ứng dụng thành công, tận dụng các cơ hội mà TMĐT mang lại cần chuẩn bị tốt nguồn nhân lực”. Thứ trưởng cũng nhấn mạnh, nhân lực TMĐT, dù là người thực hiện hay người quản lý đều là đối tượng có hàm lượng tri thức cao; do đó, cần đào tạo có hệ thống với từng vị trí, từng nhiệm vụ và theo từng chuyên ngành cụ thể.
Phần lớn các ý kiến tại hội thảo đều cho rằng cần có sự đánh giá, khảo sát về tình hình và nhu cầu nguồn nhân lực cho TMĐT, từ đó mới có thể đưa ra được những kế hoạch đào tạo sát thực tế. Hiện cả nước đã có 49 ĐH, CĐ có đưa TMĐT vào đào tạo như một môn học, trong đó có 2 ĐH đào tạo ở trình độ cử nhân. Số học viên tốt nghiệp hàng năm liệu đáp ứng được bao nhiêu phần trăm nhu cầu thực tế? Theo báo cáo về tình hình TMĐT hàng năm của Bộ Công Thương, 80% các doanh nghiệp đã có trang bị máy tính và có xu hướng ứng dụng TMĐT. Đây sẽ là một đòi hòi lớn đối với nguồn nhân lực về TMĐT.
Bà Đoàn Mỹ Hạnh, Trưởng khoa Quản trị kinh doanh, ĐH Mở TP.HCM cho rằng “để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng được nhu cầu phát triển TMĐT cần có một đội ngũ giảng viên, do đó, việc cần làm trước tiên là đào tạo người thầy. Về điều này, ông Nguyễn Văn Minh, Trưởng khoa TMĐT, ĐH Thương mại thừa nhận khoa vẫn gặp một số khó khăn về nội dung chương trình đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy… Bà Phạm Thị Thanh Hồng, giảng viên khoa Kinh tế và Quản lý, ĐH Bách khoa Hà Nội cũng cho biết “Không chỉ thiếu tài liệu giới thiệu các kiến thức đã được tập hợp có hệ thống, người học còn chưa có cả những tài liệu về kinh nghiệm thực hiện TMĐT tại Việt Nam và trên thế giới. Điều này gây khó khăn cho giáo viên trong quá trình truyền đạt kiến thức”.
Ý kiến của bà Trần Thị Thu Hà, trưởng khoa Tin học Kinh tế, ĐH Kinh tế Quốc dân và cũng là ý kiến chung của các trường ĐH, CĐ là cần tăng quyền chủ động cho cơ sở đào tạo, tạo điều kiện và cơ hội hợp tác giữa cơ sở giáo dục với doanh nghiệp.
Chia sẻ kinh nghiệm của Đài Loan, ông Ron Chuen Yeh, Học viện Công nghệ Meiho (Đài Loan) cho biết: Quan trọng là chính phủ phải hỗ trợ việc này, đồng thời, các trường ĐH phải coi TMĐT là ngành quan trọng. Từ đó, tạo điều kiện đưa giáo viên đi nghiên cứu, học tậo ở các nước. Từ đó, cập nhật các nội dung giáo trình theo sát với sự phát triển TMĐT trên thế giới. Nhà trường cũng cần tạo điều kiện cho sinh viên giao lưu, tham gia các cuộc thi về TMĐT. Tại Đài Loan, hàng năm đều có các cuộc thi về TMĐT mà tại đó, sinh viên sẽ được cấp một số tiền (ảo) và phải tự chọn lĩnh vực kinh doanh, lập kế hoạch, tìm nguồn hàng, tìm khách hàng, mua bán và thanh toán. Sau một thời gian, đội nào có kết quả kinh doanh tốt nhất là đội chiến thắng. Cuộc thi này hàng năm có rất nhiều sinh viên tham giam, qua đó các bạn biết cách kinh doanh TMĐT.
Ông Ron Chuen Yeh cũng cho biết Học viên Meiho rất hoan nghênh các giáo viên Việt Nam sang tham quan hoặc sinh viên đến học tập bởi ngày càng có nhiều doanh nhân Đài Loan đến Việt Nam làm ăn và họ hy vọng sinh viên Việt Nam sẽ được tiếp cận không chỉ kiến thức về TMĐT mà cả cuộc sống ở Đài Loan.
Thu Nga - pcworld.com.vn
Tin tức trong ngày 16/12/2009
Xem tất cả các tin trong ngày 16/12/2009
Tin mới
Tin cũ